Cả nước có gần 50.000ha cây trồng bị khô hạn cục bộ

Ông Đặng Duy Hiển, Phó vụ trưởng Vụ Khai thác công trình thủy lợi, Tổng cục Thủy lợi cho biết do thời tiết nắng nóng, khô hạn cục bộ thời gian qua đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt của người dân tại nhiều địa phương.

Hiện nay, ước tính đã có gần 50.000ha cây trồng 
rơi vào tình trạng khô hạn do thiếu nước tưới.
Theo số liệu báo cáo, mực nước trên các sông ở miền Trung hiện đang là mùa khô nên ở mức thấp, khó khăn cho việc lấy nước tưới. Tại các tỉnh Đồng bằng trung du Bắc Bộ, dòng chảy và mực nước bình thường dao động ở mức 2-2,5m, nhưng do ảnh hưởng tiến độ thi công cống trong hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải làm lưu lượng chảy qua kênh dẫn dòng nhỏ, ảnh hưởng đến việc bơm nước tưới của các địa phương Bắc Ninh, Hải Dương và Hưng Yên, dẫn đến tình trạng thiếu nước tưới.
Còn tại các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, do ảnh hưởng của xâm nhập mặn nên tại các tỉnh Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, việc lấy nước tưới của nhiều khu vực bị ảnh hưởng cục bộ.
Trước thực trạng này, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã chỉ đạo các địa phương có các hệ thống thủy lợi đang chịu tác động của nắng nóng và có xu hướng cạn mực nước tưới cuối vụ Đông Xuân, phải tập trung thực hiện mọi giải pháp tu sửa các cánh cống, triển khai lắp đặt lại các trạm bơm dã chiến và bơm chuyền nhiều lần, cấp nước cho các vùng xa, vùng cao, cuối kênh và tổ chức xe chở nước ngọt đến vùng sâu, vùng xa, đặc biệt là vùng chịu tác động của nguồn nước mặn để có nguồn nước ngọt cung cấp cho bà con, tránh tình trạng tư nhân lợi dụng ép giá đẩy giá nước ngọt lên cao.

Theo Vietnam+



Ai mang cái lạnh chết chóc phủ trắng Châu Âu?

Các nhà nghiên cứu thời tiết cho rằng có một mối liên quan giữa sự tan băng Bắc cực với những cơn gió lạnh lẽo và chết chóc vừa quét qua Châu Âu.
Theo các nhà khoa học, thời tiết lạnh giá tại Anh và một số nước Châu Âu hiện nay có mối liên quan mật thiết đến sự tan chảy băng Bắc cực, hay nói cách khác chính là sự nóng lên toàn cầu. Những vùng biển băng Barents và Kara miền bắc nước Nga đã bị tan chảy rất nhiều là câu trả lời cho những cơn gió chết chóc đã cướp đi 221 sinh mạng trong tuần qua.
Hiện tại nơi chịu hậu quả nặng nề nhất vẫn là Ukraine, đa số những người thiệt mạng tại đây đều là người vô gia cư và phải tá túc qua đêm trên đường phố. Những căn lều tạm cùng các trang thiết bị sưởi ấm và nhu yếu phẩm đã được cung cấp để hỗ trợ cho họ. Cũng thuộc khu vực này, ở Romani đã có 24 người chết và con số này tại Ba Lan là 17.
Các nghiên cứu khẳng định sự liên quan giữa việc tan băng ở Bắc cực
 và những cơn gió lạnh giá, chết chóc bất thường tại Châu Âu hiện nay.

Các chuyên gia đang ngày càng tin rằng việc băng Bắc cực tan là yếu tố chủ đạo dẫn đến việc biến đổi các dòng hải lưu cũng như không khí di chuyển tại Châu Âu. Đặc biệt bị ảnh hưởng nhiều nhất là khu vực có áp suất không khí cao tại miền bắc nước Nga.

Tan băng dẫn đến những cơn gió lạnh và nguy hiểm đã xuất hiện, thổi từ vùng cực bắc và Siberia tới vùng Tây Âu và Vương quốc Anh. Nguyên nhân đằng sau đó là những con gió thổi ngược về phía Tây Bắc nước Nga sinh ra do băng vùng biển phía Bắc bị tan.

Theo Giáo sư Stefan Rahmstorf đến từ Viện Nghiên cứu khí hậu Potsdam, những biến đổi hiện nay hoàn toàn phù hợp với những gì máy tính đã mô tả về sự thay đổi của Trái Đất để thích nghi với việc băng Bắc cực tan do sự nóng lên toàn cầu.
Những vùng biển có băng bao phủ hoạt động như một vùng biển nóng và có nhiệt độ ấm hơn không khí bên trên, tạo ra những khu vực có áp suất cao tại biển Barents và điều tiết khí hậu Châu Âu. Năm nay băng tại biển Barents và Kara đã giảm, đồng thời nhiệt độ không khí trong khu vực lại tăng. Điều này đã làm biến đổi những dòng không khí thông thường, dẫn đến tình trạng lạnh giá kéo dài và khắc nghiệt như hiện nay.


Nga tiếp cận thành công vùng hồ bí hiểm nhất thế giới


Dẫn lời một nguồn tin không nêu tên, hãng thông tấn RIA Novosti của Nga thông báo nhóm các nhà khoa học nước này đã ngừng khoan ở độ sau 3768m và chạm đến đáy của vùng hồ băng giá này.

Thông tin này khiến dư luận thở phào sau nhiều ngày suy đoán về tình trạng của đội khoan, khi mà họ phải chạy đua với thời gian để tiếp cận được với hồ băng Vostok có tuổi đời 20 triệu năm ở Nam cực, hoặc là buộc phải chờ thêm một năm nữa và thử lại lần hai. Do thời tiết quá khắc nghiệt, Vostok gần như nằm ngoài tầm với của con người với một sự sống hoàn toàn xa lạ, tới mức giới khoa học đã đặt tên cho chiếc hồ này là hồ “ngoài hành tinh”.

Hồ Vostok (đánh dấu đỏ) trên bản đồ Nam Cực
Fox News là hãng đầu tiên phản ánh về sự “im lặng đáng sợ” từ đội khoan của Nga. “Không một lời nào từ hiện trường suốt 5 ngày qua”, Giáo sư John Priscu, Khoa sinh thái học của Đại học Montana (Mỹ), người đứng đầu một chương trình thám hiểm Nam cực tương tự cho biết.

Ông cũng giải thích về những gì đã xảy đến với độ ẩm bên trong mắt, mũi và cổ họng của đội thăm dò ở nhiệt độ khắc nghiệt của Nam cực. “Khi bạn ở ngoài trời, không khí lạnh khủng khiếp, âm 30, âm 40 độ C. Nếu bạn mở mắt, dung dịch bên trong mắt sẽ bắt đầu đóng băng. Hai lỗ mũi cũng bắt đầu đóng băng. Độ ẩm trong miệng cũng đóng băng”.

Tình hình càng trở nên nước sôi lửa bỏng khi Trạm ISS nhận được tín hiệu SOS từ đội khoan “mất tích”.

“Những gì họ đang làm là rất, rất khó và chưa từng có ai dám nghĩ đến, chứ đừng nói là thử làm trước đây”, Giáo sư Priscu bình luận.

Với những gì đang diễn ra ở hồ Vostok, một giả thuyết cũ về người Đức đã xây dựng một căn cứ bí mật ngay từ những năm 1930 lại được khơi lại. Khu hồ “ngoài hành tinh” này chỉ mới được phát hiện từ năm 1996 và lần khoan thử đầu tiên này cũng bị hoãn tới hai năm do điều kiện không thích hợp của thời tiết và công nghệ chưa đủ hiện đại.

Theo Vietnamnet

"Hiện tượng La Nina sẽ chấm dứt trên toàn cầu"


Ngày 9/2, các nhà khí hậu của Liên hợp quốc và Mỹ khẳng định hiện tượng thời tiết La Nina sẽ chấm dứt vào mùa Xuân năm 2012 sau khi mạnh lên một thời gian ngắn vào mùa Thu năm 2011.

La Nina xuất hiện vài năm một lần theo chu kỳ của gió mậu dịch làm lạnh lớp nước bề mặt Thái Bình dương ở khu vực xích đạo. Cũng như hiện tượng thời tiết En Nino xuất hiện do lớp nước bề mặt Thái Bình dương nóng lên, La Nina làm đảo lộn các mô hình thời tiết toàn cầu và thường kéo dài trong 2 năm.
La Nina thường kết thúc vào mùa Hè và tạo ra các
điều kiện thời tiết ôn hoà cho đến cuối mùa Thu
La Nina năm 2010 - 2011, được các nhà khí hậu thế giới ghi nhận là mạnh nhất trong vòng 50 năm qua, đã gây ra các hiện tượng thời tiết cực đoan trên khắp thế giới như tuyết rơi kỷ lục vào mùa Đông, lũ lụt kỷ lục vào mùa Xuân và hạn hán kỷ lục vào mùa Hè ở nhiều bang nước Mỹ, mưa lớn gây lũ lụt ở Australia và một số nước Đông Nam Á, đồng thời gây hạn hán khủng khiếp ở Đông Phi.

Các hiện tượng La Nina thường kết thúc vào mùa Hè và tạo ra các điều kiện thời tiết ôn hoà cho đến cuối mùa Thu, nhưng La Nina 2010 - 2011 diễn biến khác thường với việc mạnh lên ở khu vực xích đạo của Thái Bình dương từ tháng 9/2011, qua mùa Đông và kéo dài đến tháng 1/2012.

Tổ chức Khí tượng thế giới (WMO) của Liên hợp quốc và Cơ quan Khí hậu và đại dương của Mỹ cho rằng La Nina 2010 - 2011 kéo dài hết mùa Đông 2011 - 2012 ở Bắc bán cầu và sẽ chấm dứt vào mùa Xuân năm 2012. Thiệt hại kỷ lục mới do các thảm họa tự nhiên trong năm 2011 gây ra là do sự kết hợp của nhiều nhân tố như La Nina, các mô hình khí quyển cục bộ và biến đổi khí hậu.

Theo Vietnamnet

Hiện tượng thời tiết La Nina đã lên tới đỉnh điểm


Ngày 11/1, Tổ chức Khí tượng thế giới (WMO) và Cục Khí tượng Australia (ABM) đánh giá hiện tượng thời tiết La Nina năm 2011-2012 đã lên tới đỉnh điểm sau khi gây khô hạn nghiêm trọng ở Argentina và lụt lội kinh hoàng ở nhiều nước Đông Nam Á.
Các số liệu của WMO và ABM cho biết La Nina tiếp tục tác động đến thời tiết ở khu vực Thái Bình Dương nhưng đã có dấu hiệu suy yếu.
Thời tiết khô hạn đã gây hạn hán nghiêm trọng cho các vùng trồng đậu nành và ngô ở Nam Mỹ trong khi mưa lớn đã gây lũ lụt trên diện rộng tại các đồn điền cao su và cọ ở Thái Lan và Malaysia.
Các chuyên gia ước tính hạn hán hiện nay do hiện tượng thời tiết La Nina gây ra có thể gây thiệt hại cho Argentina lớn hơn cả đợt hạn hán năm 2008-2009, vốn được đánh giá là tồi tệ nhất trong vòng 70 năm qua ở nước này. Vào thời điểm đó, hạn hán đã khiến sản lượng đậu nành của Argentina giảm 31% xuống còn 32 triệu tấn - mức thấp nhất trong 7 năm qua, sản lượng ngô là 15,5 triệu tấn, giảm 30%.
Năm qua, Mỹ cũng chịu những thiệt hại tương tự khi sản lượng ngô xuống mức thấp nhất trong vòng 3 năm qua. Thực tế này đã ảnh hưởng nghiêm trọng tới giá một số nông sản trên thị trường thế giới, cụ thể giá ngô đã tăng 13% trong khi giá đậu nành và lúa mì cũng tăng 11%.
Mưa lớn cũng làm giảm sản lượng dầu cọ trong tháng 12/2011 ở Malaysia, nước sản xuất dầu cọ lớn thứ 2 thế giới, xuống 1,63 triệu tấn, mức thấp nhất trong vòng 9 tháng qua.
Lũ lụt cũng làm giảm mạnh sản lượng cao su ở Thái Lan khiến giá cao su trên thị trường tăng 3,6% trong tháng 1/2012.

Theo Vietnam+

Nhật Bản: Dùng vịt thay thuốc hóa học diệt sâu, cỏ


Nông dân Nhật Bản đang áp dụng phương pháp mới để trừ sâu và cỏ dại bằng cách thả vịt vào đồng ruộng.
Trong bài nhan đề "Vịt - Một giải pháp thay thế thuốc trừ sâu trên đồng ruộng", báo Le Monde của Pháp mới đây đã giới thiệu phương pháp trên.
Bài báo cho biết, người nông dân tiên phong trong phương pháp dùng vịt thay thuốc bảo vệ thực vật này là ông Takao Furuno, 61 tuổi, hiện sống tại làng Keisen, trên đảo Kyushu ở miền Tây Nhật Bản. Ông thả vịt và để cho chúng tự kiếm ăn trên đồng ruộng bằng cách tìm sâu bọ bám trên lúa và cỏ dại.
Khi bơi lội, vịt có thể tạo oxy cho nước và làm tơi đất. Phân của chúng cũng rất tốt cho quá trình sinh trưởng của lúa.
Với phương pháp đơn giản mà hiệu quả này, ông Furuno còn tiết kiệm được tiền mua thuốc trừ sâu và diệt cỏ dại. Thu nhập của ông cao hơn đến 30% so với thu nhập trung bình của những nông dân sử dụng phân hóa học. Ngoài ra, số tiền kiếm được từ việc bán vịt cũng không nhỏ.
Thành công của ông Furuno đã được nhiều người chú ý. Cuốn sách "Quyền lực của vịt" của ông, xuất bản năm 2010, đã thu hút sự quan tâm của hơn 75.000 nông dân ở nhiều nước trên thế giới.
Nông trại của ông Furuno thường xuyên nhộn nhịp các đoàn sinh viên trong và ngoài nước đến thực tập.

Theo Vietnam+

Năm 2012, Chi ngân sách cho nông nghiệp chiếm 40%



Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng khẳng định, trong năm 2012, dự toán NSNN dành cho nông nghiệp và phát triển nông thôn sẽ là trên 308 nghìn tỉ đồng, chiếm 40,9% tổng vốn đầu tư toàn xã hội...

Chủ tịch Quốc hội bổ sung, con số trên còn chưa bao gồm nhiều nguồn tín dụng, và điều đó chứng tỏ sự quan tâm đặc biệt của hệ thống chính trị cũng như toàn xã hội đối với ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn. “Chính sách nông nghiệp, nông thôn và nông dân; giải pháp đầu tư cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn; lấy nông dân làm căn bản, nông thôn làm cơ sở đang là vấn đề quan trọng hàng đầu hiện nay. Đó là mấu chốt của sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa”.

Tham gia trả lời chất vấn của các ĐBQH, Bộ trưởng Bộ Tài chính Vương Đình Huệ cho biết, mức đầu tư của Chính phủ cho ngành nông nghiệp luôn rất rất lớn, hàng năm tăng trung bình 30% so với năm trước. Dự toán năm 2012, NSNN dành cho nông nghiệp là 308 nghìn tỉ đồng, chiếm tới 40,9% NSNN. Nền nông nghiệp vững mạnh, niềm tin của nông dân và nông thôn ổn định chính là cơ sở để nền kinh tế vĩ mô có thể sớm lấy lại được đà phục hồi.
Nông nghiệp luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt từ xã hội. (Ảnh: Bảo Sơn).
Về bảo hiểm nông nghiệp, Bộ trưởng Vương Đình Huệ thông báo, bắt đầu từ đầu năm 2012, công tác thí điểm sẽ được tiến hành, trước tiên tập trung vào rủi ro thiên tai (nước biển dâng, rét đậm rét hại, lũ lụt…) và dịch bệnh (gia súc, tai xanh, thủy sản, rầy nâu…).

“Trong năm tới, Bộ Tài chính sẽ bố trí 1.200 tỉ đồng ngân sách cho bảo hiểm nông nghiệp. Nếu sử dụng hiệu quả thì sẽ có những bước phát triển rất tốt. 3 đối tượng được ưu tiên là cây lúa và cây hoa màu (bao gồm bờ, đê, giống)…; gia súc (trâu bò, lợn, gia cầm…); thủy sản (cá tra, cá sa, tôm sú, tôm chân trắng…). NSNN hỗ trợ 100% cho hộ nghèo, 80% hộ cận nghèo, các hộ khác là 60%. Doanh nghiệp tham gia bảo hiểm được hỗ trợ 20%. NSNN hỗ trợ 100% cho nguồn bảo hiểm này”, Bộ trưởng Huệ cho biết.

Bộ trưởng Bộ Công Thương Vũ Huy Hoàng phân tích, ngành nông nghiệp phải bảo vệ bằng được những mặt hàng như muối, đường ăn, trứng gia cầm và thuốc lá nguyên liệu. Các mặt hàng khác được nhập khẩu không hạn chế, nhưng phải kiểm soát nghiêm ngặt về kỹ thuật và chất lượng. Với rau quả nông sản, năm 2010 chúng ta xuất khẩu đạt 76 triệu USD, nhập khẩu 60 triệu USD. Bởi vậy, biện pháp duy nhất để duy trì thành tích trên là chúng ta phải xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật tiệm cận thế giới, thì rau quả của chúng ta mới có cơ hội sống sót. Tiêu thụ sản phẩm và xây dựng hệ thống phân phối đặc biệt với 11 mặt hàng thiết yếu như gạo, muối, phân bón, thức ăn gia súc…

“Tuy nhiên, mức độ đầu tư cho hệ thống phân phối khác nhau nên hiệu quả cũng khác nhau. Chẳng hạn gạo thực hiện rất tốt, muối cũng có những đảm bảo nhất định cho diêm dân. Tuy nhiên, riêng mặt hàng thức ăn gia súc, phân bón thì còn có một số hạn chế. Thời gian tới cần phải kêu gọi nhiều thành phần tham gia vào hệ thống phân phối để đảm bảo lợi ích cho người nông dân. Vấn đề yếu nhất trong phân phối và tiêu thụ là lĩnh vực rau quả, do chưa có biện pháp căn cơ. Thời gian tới sẽ tập trung vào lĩnh vực này. Xuất khẩu nông sản sẽ tăng cường việc ký kết các hiệp định thương mại tự do, đẩy mạnh xúc tiến thương mại”, Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng cảnh báo.

Nguồn: (Petrotimes) 

Ngành nông nghiệp "tất niên" sớm!

* Tổng kết năm 2011, triển khai kế hoạch 2012
Bộ trưởng Cao Đức Phát: “Trong điều kiện khó khăn,
 nông nghiệp vẫn đạt nhiều thành tựu”


 Sản lượng lúa đạt kỷ lục
Thứ trưởng Bộ NN-PTNT Diệp Kỉnh Tần cho biết, ngành NN-PTNT triển khai kế hoạch năm 2011 trong điều kiện phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Nhưng toàn ngành đã tích cực triển khai các biện pháp đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh, nghiêm túc thực hiện các giải pháp về kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô. Do đó, nông nghiệp và nông thôn tiếp tục có những bước phát triển khá toàn diện. Đời sống nông dân ngày càng được cải thiện.
Những kết quả đạt được của ngành trong năm qua được thể hiện qua các số liệu thuyết phục của Tổng cục Thống kê: giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản tăng 5,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, nông nghiệp tăng 4,78%, lâm nghiệp tăng 5,74%, thủy sản tăng 6,39%. Tốc độ tăng trưởng của ngành (GDP nông nghiệp) tăng 2,3%.
Trong tất cả các kết quả trên, nổi bật hơn cả là tổng sản lượng lúa với 42,2 triệu tấn, cao nhất từ trước đến nay, tăng 2,2 triệu tấn so với cùng kỳ, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia. Cũng từ đây, sản lượng gạo XK đạt đến 7,2 triệu tấn, thu về cho đất nước nguồn ngoại tệ 3,7 tỷ USD. “Ngoài ra, sản lượng ngô, khoai lang, sắn và rau xanh cũng tăng đáng kể so với cùng kỳ. Đây chính là kết quả của việc tập trung chỉ đạo đẩy mạnh sản xuất, thực hiện mạnh mẽ các giải pháp hỗ trợ, khuyến khích, đồng thời chuyển đổi mạnh mẽ cơ cấu giống, thời vụ và phòng trừ hiệu quả dịch bệnh trên cây trồng”, Thứ trưởng Diệp Kỉnh Tần cho hay.
Đóng góp lớn vào thành tích của ngành nông nghiệp là lĩnh vực XK. Năm qua, hầu hết các mặt hàng XK nông lâm thủy sản của Việt Nam đều đạt sản lượng lớn và mức giá cao, tạo nên “thắng lợi kép” được mùa, được giá của ngành. Ước cả năm, tổng kim ngạch XK nông lâm thủy sản đạt gần 25 tỷ USD, tăng 29% (khoảng 5 tỷ USD) so với năm 2010. Thặng dư thương mại của toàn ngành đạt trên 9,2 tỷ USD, góp phần lớn vào việc hạn chế nhập siêu của cả nước. Có 4 mặt hàng là thủy sản, đồ gỗ, gạo và cao su đạt kim ngạch XK trên 3 tỷ USD, cà phê có kim ngạch trên 2 tỷ USD và hạt điều trên 1 tỷ USD.
Ngoài những thành tựu về sản xuất, XK, hạ tầng nông nghiệp, nông thôn tiếp tục được nâng cao, hiện đại hóa. Hệ thống thủy lợi được đầu tư, đặc biệt là các công trình cấp bách, trọng điểm. Bộ NN-PTNT đã phối hợp chặt chẽ với các địa phương theo dõi sát diễn biến thời tiết, nguồn nước và chỉ đạo triển khai các giải pháp thủy lợi, vận hành hiệu quả toàn bộ hệ thống. “Song song với đó, các cơ sở nghiên cứu và sản xuất cây trồng, vật nuôi, giống cây lâm nghiệp và giống thủy sản cũng được ưu tiên hiện đại hóa trang thiết bị và vật chất. Nhờ đó, ngành nông nghiệp đã ứng dụng được công nghệ cao vào sản xuất, lai tạo những giống cây, con có chất lượng, năng suất cao và khả năng chống chịu dịch bệnh tốt”, Thứ trưởng Tần thông tin. 
Tiếp tục phát huy những kết quả đạt được, trong năm 2012, Bộ NN-PTNT xác định nhiều giải pháp hiệu quả. Trong đó, tiếp tục hướng tới mục tiêu đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, đồng thời phát huy được tiềm năng, thế mạnh của các ngành hàng có lợi thế cạnh tranh nhằm thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng trong nước và XK. “Tập trung đẩy mạnh áp dụng KHKT vào sản xuất, bao gồm cả công nghệ cao, các quy trình sản xuất tiên tiến để nâng cao hiệu quả sản xuất của các sản phẩm nông nghiệp, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm là những ưu tiên của ngành trong năm tới”, Bộ trưởng Cao Đức Phát nhấn mạnh.
Tái cơ cấu ngành theo hướng nâng cao giá trị gia tăng
Không thỏa mãn với những thành tích đạt được, Bộ trưởng Cao Đức Phát cho rằng, dù đạt được những kết quả khá ấn tượng, nhưng tốc độ tăng trưởng GDP của ngành đang chậm lại. “Chúng ta làm số lượng ngày càng nhiều, nhưng giá trị gia tăng chưa cao, nghĩa là làm nhiều nhưng được ít tiền. Đây là thách thức của ngành trong thời gian tới”, Bộ trưởng nói.
Theo Bộ trưởng, để tạo ra giá trị gia tăng các sản phẩm nông nghiệp ngày càng cao, việc cần làm ngay là tái cơ cấu ngành. Định hướng của việc này là xây dựng một nền nông nghiệp hiện đại, hiệu quả, chất lượng, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng trong nước và đủ sức cạnh tranh trên thị trường thế giới. Ngoài ra, nông nghiệp Việt Nam sẽ hướng tới trở thành một cường quốc XK nông sản với tốc độ tăng trưởng bình quân toàn ngành từ 2,6-3%/năm.
“Một trong những biện pháp trước mắt là tiếp tục thúc đẩy phát triển mạnh các ngành hàng có lợi thế cạnh tranh và có thị trường ổn định như nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là cá tra, tôm, nhuyễn thể..., chăn nuôi gia cầm, lợn và bò sữa. Ngoài ra, đối với ngành trồng trọt, cần tập trung tăng năng suất, chất lượng, giảm giá thành, điều chỉnh cơ cấu giống cây trồng theo lợi thế vùng miền. Trong lâm nghiệp ưu tiên phát triển rừng kinh tế và các dịch vụ môi trường rừng…”, Bộ trưởng chỉ đạo.
Về các giải pháp tái cơ cấu ngành, theo nhiều ý kiến thảo luận tại hội nghị, cần điều chỉnh cơ cấu đầu tư theo lĩnh vực. Cụ thể là ưu tiên vốn cho các chương trình, dự án về chọn tạo, nhân giống cây trồng, vật nuôi và thủy sản để phòng chống dịch bệnh và đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm. Thực hiện rà soát, phân loại các dự án đầu tư để điều chỉnh vốn. Theo Bộ trưởng, điều chỉnh cơ cấu đầu tư không phải là chia lại ngân sách nhà nước, mà ưu tiên hơn cho khối tư nhân, hợp tác công tư (PPP), trong đó phân công rõ vai trò của Nhà nước, tư nhân để hợp tác.
Ngoài ra, cần nâng cao hiệu quả, chất lượng đầu tư, đổi mới DNNN và phát triển các thành phần kinh tế; tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách và ưu tiên đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ phát triển.
Thủy sản, đồ gỗ đạt kim ngạch XK “khủng”
Năm 2011, giá cả hàng nông lâm thủy sản trên thị trường thế giới tăng mạnh. Đồng thời, sản xuất trong nước được mùa nên nguồn hàng phục vụ XK dồi dào. 4 mặt hàng đạt kim ngạch XK trên 3 tỷ USD là thủy sản, lúa gạo, đồ gỗ và cao su. Trong đó, thủy sản đạt kim ngạch tới 6,1 tỷ USD, đồ gỗ 4,1 tỷ USD...
Phát biểu chỉ đạo hội nghị, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân cho rằng, năm qua dù gặp nhiều khó khăn, nhưng ngành nông nghiệp đã đạt nhiều thành tựu. Chính phủ đánh giá cao những nỗ lực của Bộ NN-PTNT và các địa phương trong việc khuyến khích, thúc đẩy nông nghiệp tiếp tục tăng trưởng và phát triển bền vững, là động lực quan trọng trong đảm bảo an sinh xã hội, đặc biệt là khu vực nông thôn.
Phó Thủ tướng đề nghị, ngành cần tập trung đầu tư cho nhóm sản phẩm chủ lực, có hiệu quả kinh tế cao; cần lưu ý, nghiên cứu thị trường XK nông sản có tiềm năng rất lớn là Trung Quốc. “Trong năm 2012, ngành cần tập trung nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp, trong đó tăng sản lượng và chất lượng các sản phẩm nông lâm thủy sản; dự báo giá cả thị trường các sản phẩm XK chủ lực và tiềm năng của các sản phẩm phục vụ XK”, Phó Thủ tướng nói.
Cũng theo Phó Thủ tướng, trong đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp, cần kết hợp đầu tư công và thu hút đầu tư khu vực tư nhân vào lĩnh vực phát triển của ngành; xây dựng kế hoạch, phương hướng phát triển trên cơ sở có tính toán đến tác động của biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường. Thời gian tới, Bộ NN-PTNT cần thống kê những chỉ tiêu về năng suất, hiệu quả cụ thể của từng cây, con trong từng vùng, và thu nhập của người dân tại địa phương đó, để có đánh giá, tìm ra cách làm mang lại hiệu quả nhất. Trong tái cơ cấu ngành, cần lựa chọn và tập trung ưu tiên cho các nhóm sản phẩm chủ lực, mang lại giá trị kinh tế cao...
Các nhóm giải pháp phát triển ngành bền vững
Theo Bộ trưởng Cao Đức Phát, nguyên nhân quan trọng để ngành nông nghiệp đạt được những kết quả trên là do sự chỉ đạo quyết liệt, kịp thời và đúng đắn của Bộ và các cấp chính quyền, sự vào cuộc quyết tâm của bà con nông dân. Để duy trì và phát triển bền vững trong năm 2012, cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp:
- Rà soát để điều chỉnh cơ cấu sản xuất, tập trung phát triển các loại cây con, lĩnh vực đem lại giá trị gia tăng cao. Bài học suốt 20 năm qua của ngành cho thấy, tập trung vào những lĩnh vực then chốt, thế mạnh sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao.
- Để thực hiện được chủ trương tái cơ cấu, trước hết phải tìm cách điều chỉnh lại cơ cấu đầu tư. Trước mắt, cần phát huy nhanh hơn đầu tư công. Về lâu dài phải huy động các nguồn lực đa dạng tập trung vào lĩnh vực trọng tâm.
- Tiếp tục thực hiện tốt chủ trương đổi mới DNNN, đặc biệt là 15 tập đoàn, TCty thuộc Bộ. Với các DN thành viên là khoảng 500 đơn vị, đã cơ bản hoàn thành CPH. Còn lại số ít cần được thực hiện triệt để. Ngoài ra, phải sắp xếp, đổi mới các nông, lâm trường quốc doanh. Đồng thời, đổi mới và nâng cao hiệu quả kinh tế hợp tác, khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân.
- Phát triển chăn nuôi theo hướng hiện đại, tập trung chăn nuôi quy mô hộ gia đình theo mô hình bán công nghiệp, đi kèm với công tác quản lý dịch bệnh. Đây cũng là nội dung điều chỉnh lại cơ cấu sản xuất.
- Tăng cường các liên kết sản xuất, chế biến, liên kết theo chuỗi, mô hình cánh đồng mẫu lớn, sản xuất nông nghiệp có xác nhận, kết hợp với tìm đầu ra ổn định cho nông sản.
- Triển khai tốt đề án đào tạo nghề cho nông dân.
Bà Phan Thị Yến Nhi, GĐ Sở NN-PTNT An Giang: “Thu hút đầu tư mạnh vào nông nghiệp”
Hiện An Giang đang xác định nâng cao giá trị sản xuất nông nghiệp bằng cách thu hút các thành phần kinh tế đầu tư vào lĩnh vực này. Nhiều DN trong và ngoài tỉnh đã xây dựng hệ thống kho chứa lúa gạo và dây chuyền chế biến các sản phẩm nông sản để chủ động thu mua của nông dân. Tuy nhiên, tỉnh An Giang đang rất lúng túng trong cơ chế ưu đãi cho các DN này. Chúng tôi đề nghị Bộ NN-PTNT và các ban, ngành Trung ương xem xét, hỗ trợ tỉnh để nhanh chóng có giải pháp thích hợp.
Ông Nguyễn Hữu Dương, GĐ Sở NN-PTNT Hải Dương:  “Cần làm sạch môi trường trong sản xuất nông nghiệp”
Tỉnh Hải Dương có khoảng 73 nghìn ha đất nông nghiệp, nhưng thống kê của chúng tôi cho thấy, mỗi năm có tới 300 tấn thuốc bảo vệ thực vật rải rác khắp các cánh đồng. Đây là số lượng rất lớn, ảnh hưởng tới sức khỏe nông dân. Thêm nữa, 10 nghìn ha trong số diện tích đất nông nghiệp của chúng tôi cũng “được” tưới tiêu bằng nguồn nước không sạch do các KCN, khu dân cư thải ra. Hải Dương là vựa rau của miền Bắc, nhưng chúng tôi cũng rất không hài lòng với quy trình trồng rau của bà con nông dân, có nơi 3 ngày phun thuốc trừ sâu cho rau 1 lần. Do đó, chúng tôi đề nghị, cần sớm có biện pháp làm sạch môi trường trong sản xuất nông nghiệp.
Ông Nguyễn Văn Bộ, GĐ Viện KH Nông nghiệp VN: “Tạo được liên kết trong sản xuất”
Theo đánh giá của tôi, hiện nay giữa nhà khoa học và nông dân đã rất gần nhau thông qua chính sách liên kết “4 nhà” và đã tạo ra được mối liên kết hữu cơ. Tuy nhiên, lợi ích của các nhà phải được chia sẻ. Hiện nay, lợi ích đó đang được mua đứt, bán đoạn, thành thử không tạo thành liên kết. DN chỉ quan tâm mua các sản phẩm khi có thị trường còn người ta không quan tâm đến việc đặt hàng nông dân những sản phẩm mà họ cần mua. Khi người ta đặt hàng đúng những sản phẩm thị trường yêu cầu, cho nông dân là một bộ phận cấu thành của người ta thì nhà khoa học mới có vai trò để giúp nông dân sản xuất những sản phẩm đáp ứng đúng yêu cầu thị trường.
Để sản xuất phát triển phải có 3 yếu tố quan trọng là vốn, thị trường, khoa học. Nhà nước không thể bỏ vốn được mà phải thông qua DN. DN thay mặt nông dân xác định thị trường, thị trường có yêu cầu gì, sản phẩm yêu cầu chất lượng ra sao, qui mô, số lượng, thời điểm như thế nào thì đặt hàng trở lại với nông dân sản xuất loại sản phẩm đó.
Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân phát biểu chỉ đạo
 hội nghị
“Đầu năm chống rét, giữa năm chống hạn, lại gặp lũ lớn ở miền Trung và ĐBSCL, nhưng nông nghiệp vẫn đạt những thành tích nổi bật, được Đảng, Chính phủ ghi nhận”, Bộ trưởng Bộ NN-PTNT Cao Đức Phát khẳng định trong cuộc họp tổng kết ngành năm 2011 và bàn phương hướng nhiệm vụ năm 2012, tổ chức ngày 24 và 25/12, tại Hà Nội. Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân dự và chỉ đạo hội nghị.




Nguồn: nongnghiep.vn

Điện Biên: Kết quả mô hình máy làm đất đa năng

Ngày 20/12/2011, Trung tâm Khuyến nông Điện Biên phối hợp với Đảng uỷ, Uỷ ban Nhân dân xã Thanh Luông, huyện Điện Biên tổ chức Hội nghị tổng kết đánh giá kết quả mô hình máy làm đất đa năng 1Z - 41A với quy mô 5 máy/5 hộ nông dân tham gia, tại 5 đội sản xuất 2b, 6, 7, 12b,13b xã Thanh Luông.

Thời gian tổ chức hội nghị tổng kết đánh giá kết quả mô hình đúng vào lúc bà con nông dân đang tiến hành làm đất vụ chiêm xuân. Các hộ nông dân tham gia mô hình cho biết, với 1 ha đất ruộng trồng lúa làm bằng máy làm đất đa năng sẽ hết 2 công, tính tổng chi phí khấu hao máy, nhiên liệu, và công lao động hết 818.000 đồng. Nếu cày bằng trâu mất 14 công, với giá công lao động 100.000 đồng/công thì 1 ha làm đất bằng trâu cày hết 1.400.000 đồng. Như vậy, làm đất bằng máy đa năng tiết kiệm được 582.000đ/ha so với làm bằng trâu, quan trọng hơn nữa là đã giải phóng được sức lao động nặng nhọc cho con người trong khâu làm đất, đẩy nhanh được tiến độ làm đất tại thời điểm mùa vụ bận rộn, góp phần giải quyết được sự thiếu hụt lao động. Với mô hình này các hộ nông dân được tiếp cận với cơ giới hoá nông nghiệp nông thôn, làm đất cho gia đình. Bên cạnh đó, các hộ tham gia mô hình còn có thể cày thuê cho bà con nông dân trong đội, xã tăng thêm thu nhập cho gia đình.
Theo đánh giá của bà con nông dân tham gia mô hình cho thấy máy làm đất đa năng có ưu điểm gọn nhẹ, thao tác sử dụng đơn giản, tiết kiệm được nhiên liệu, làm đất có hiệu quả trên diện tích màu đồi, bãi, ruộng bậc thang, ruộng nhỏ, manh mún. Máy làm đất đa năng 1Z - 41A có khả năng phay rạ sau khi thu hoạch, đánh luống trồng rau, lạc, ngô trên đất màu ở các vụ trong năm, máy còn có thể liên kết được với nhiều loại công cụ phục vụ sản xuất nông nghiệp khác như: bơm nước, vận chuyển, xay xát… Đây là mô hình do Trung tâm Khuyến nông Quốc gia hỗ trợ đầu tư kinh phí 100% vật tư thiết bị cho hộ nông dân thuộc vùng khó khăn.
Tại hội nghị, bà con nông dân đã đề xuất các nhà chuyên môn kiến nghị với nhà sản xuất cần cải tiến thêm bánh phụ cho máy nhằm giúp người sử dụng máy được dễ dàng hơn.

Đinh Thị Thu Hà - TTKN Điện Biên


Dùng bùn đỏ xử lý ô nhiễm kim loại trong nước thải


Tiến sỹ Nguyễn Trung Minh và đồng nghiệp, thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã nghiên cứu thành công việc tận dụng thành phần có ích của bùn đỏ, để tạo ra một loại vật liệu mới có khả năng xử lý ô nhiễm kim loại nặng trong nước thải, thân thiện với môi trường, có khả năng hấp thụ cao, giá thành rẻ, phù hợp với điều kiện Việt Nam.

Bùn đỏ là sản phẩm (chất thải rắn) của quá trình khai thác bauxite và tinh chế Alumina. Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu xử lý bùn đỏ, nhằm mục đích loại bỏ một phần hoặc tiêu hủy an toàn và vận dụng thành phần có ích của nó.

Theo Tiến sỹ Nguyễn Trung Minh, việc nghiên cứu phát triển các sản phẩm chế tạo từ bùn đỏ hết sức quan trọng và cấp bách hiện nay, đáp ứng được cả 2 mục tiêu. Đó là giảm được lượng chất thải trong quá trình khai thác, chế biến bauxite, vừa tận dụng chất thải dư thừa trong khai thác, chế biến quặng tạo ra loại vật liệu có khả năng xử lý các ô nhiễm ion kim loại nặng, các chất độc hại khác trong môi trường nước.

Đây là nhu cầu thực tế và bức xúc hiện nay tại các khu kinh tế Tây Nguyên và nhiều địa phương, như Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn và ven biển Miền Trung.

Kết quả nghiên cứu ban đầu cho thấy sự hấp phụ của vật liệu chế tạo từ bùn đỏ Bảo Lộc - Lâm Đồng với ion kim loại nặng Pb2+ và các thông số hóa lý, hấp phụ đẳng nhiệt khác, đã chỉ ra khả năng sử dụng bùn đỏ để xử lý ô nhiễm chất thải. Đó là trộn bùn đỏ với các loại phụ gia như dầu cốc, cao lanh, thủy tinh lỏng (Na2SiO3) theo tỷ lệ nhất định, thêm lượng nước phù hợp và trộn nhuyễn.

Hạt vật liệu có đường kính cỡ 2,5mm, nung mẫu ở các nhiệt độ khác nhau từ 400-900 độ C. Trong đó mẫu C1 được chọn vì có dung lượng hấp và 0% hấp là tốt nhất, đáp ứng được yêu cầu của một vật liệu hấp phụ thực tế.

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More